Thứ Bảy, 29 tháng 3, 2014

Cha tôi trong nỗi nhớ

Nguyễn Tuấn Khoa
Thực ra tôi không được sống gần gũi với cha tôi nhiều, năm tôi sinh ra là năm Kháng chiến toàn quốc. Tháng 11, một loạt sự kiện xáy ra, tôi sinh ra trong những ngày cha tôi chuẩn bị lên đường kháng chiến, nên ông không ở nhà. Ngày 19-12-1946, gia đình tôi về Hải Dương quê nhà, được mấy ngày thì cả gia đình sang Thái Bình. Trước đó, năm 1938, khi cha tôi 21 tuổi thì cả gia đình chuyển lên Hà Nội.
Nhà thơ Liệt sĩ Thâm Tâm (1917-1950)
Rồi năm 1948, khi gia đình quay về Hải Dương thì cha tôi về thăm nhà, nhân chuyến công tác về vùng địch hậu liên khu III. Bài thơ Chiều mưa đường số 5 ra đời trong những ngày đó. Những dòng thơ cồn cào nhớ nhung vùng Việt Bắc xa xôi:
Chiều mưa ngàn mai nở
Hoa phới bay mùa xuân
Bếp sàn gây ngọn lửa
Chén trà ngát tình dân
Chiều mưa lùa các cửa
Ngày bộ đội hành quân
Mẹ già không nói nữa
Nước mắt nhìn rân rân ...
Chiều mưa giã gạo mau
Chầy tập đoàn thình thịch
Ơi núi thẳm rừng sâu
Trung đội cũ về đâu
Biết chăng chiều mưa mau ...
Sau này lớn lên tôi mới biết bài thơ đó. Lúc về thăm gia đình, cha tôi có mang theo một cái máy ảnh (lúc này ông là Thư ký tòa soạn báo Vệ quốc quân), nên có chụp một vài kiểu. Đó là kiểu tôi ngồi với ông nội, ảnh riêng tôi (năm ấy khoảng 2, 3 tuổi). Sau đó từ Việt Bắc cha tôi gửi về. Bây giờ tôi vẫn còn giữ những bức ảnh ấy. Đó là lần duy nhất cha con tôi gặp nhau. Năm sau 1949, gia đình tôi chạy tản cư vào Thanh Hóa, thỉnh thoảng có nhận được thư của cha tôi. Thư nào ông cũng hỏi thăm cặn kẽ, chu đáo về tình hình gia đình, các chị.
Ảnh Thâm Tâm chụp con trai Nguyễn Tuấn Khoa, 1948
Nguyễn Tuấn Khoa và ông nội
Cuối năm 1950, ở nhà có nghe tin qua một vài người quen biết, nói rằng cha tôi đã mất, hình như báo chí trong vùng địch hậu cũng đăng tin đó. Tôi nhớ một lần, mẹ tôi bị bệnh thương hàn, thấy các cô chú cứ xì xào nhỏ to chuyện gì đó, mà không cho mẹ tôi biết, thì ra đó chính là tin bố tôi mất. Lớn lên một chút, tôi biết mấy chú ở báo Vệ quốc quân có chuyển về cho gia đình tôi giấy báo tử, thư chia buồn ... Ở giấy báo tử, người ký tên là Hoàng Xuân Tùy. Sau này, khi tôi học ở ĐH Bách Khoa thì ông là Hiệu trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy trường, rồi Thứ trưởng Bộ Giáo dục.
Khi cha tôi mất, tôi còn bé, tôi cứ hình dung cái chết của cha tôi. Lớn lên, gặp nhà văn Vũ Cao, tôi mới biết được những phút cuối cùng ấy. Ông mất ở một nhà sàn, gần biên giới, trước chiến dịch Biên giới.
Tôi được mẹ tôi và các bác kể về cha tôi nhiều, nhất là khi tôi lớn lên. Tôi luôn tưởng tượng ông là người sống cẩn thận, hơi nghiêm khắc, lạnh lùng, và có lẽ pha một chút ngang tàng như các chú tôi. Vào năm 1940, gia đình ông tôi nghèo túng, lại đông con, nên ông nội tôi làm đủ các nghề để sinh sống, khi đóng sách, khi là ông giáo làng. Lên Hà Nội, gia đình tôi ở số 7 Đội Cung - tức phố Thái Phiên bây giờ. Ngôi nhà gia đình ông tôi ở bây giờ được thay thế bằng ngôi nhà 3 tầng đồ sộ. Cha tôi và mẹ tôi quen nhau ở đây trong những ngày này. Mẹ tôi là công nhân của hãng dệt Phúc Lai (một hãng dệt tư nhân ở Hà Nội), hãng này có nhiều cơ sở. Cơ sở bán hàng mẫu ở phố Huế, mẹ tôi làm ở đây. Tôi nói đôi nét về gia đình mẹ tôi. Gia đình ông ngoại tôi gốc ở Thanh Hóa, nhiều con gái. Mẹ tôi là con út, khi lớn lên các chị gái đều lập gia đình, nên mẹ tôi cũng muốn đi làm sớm. Nhà ông ngoại tôi ở dốc Tam Đa. Mẹ tôi có người chị học cùng với chị bố tôi ở Hải Dương, thấy mẹ tôi bán hàng ở phố Huế liền giới thiệu về nhà ông nội tôi, để đi làm cho gần. Theo mẹ tôi nói, bố tôi đi suốt ngày, mỗi khi về nhà thức rất khuya viết lách, đôi khi vẽ tranh (để bán), bố tôi có khiếu hội họa. Bạn bè bố tôi rất đông, đôi khi về uống rượu bàn chuyện thơ văn ào ạt một lúc rồi đi ngay. Những người quen biết vời gia đình tôi nay còn sống như nhà văn Thanh Châu, ông Ngọc Giao… Hai người bạn thân thiết và tâm đắc của cha tôi là nhà thơ Nguyễn Bính và nhà thơ - nhà viết kịch Trần Huyền Trân. Hai ông này không ngày nào không đến nhà tôi. Cho đến bây giờ, tôi vẫn không cắt nghĩa vì sao các cụ lại thân nhau đến như vậy, bởi cả ngoài đời và văn phong thật khác nhau.
Cha tôi làm thơ nhiều, nhưng bài Tống biệt hành được mọi người yêu thích hơn cả. Tôi biết bài thơ không phải do khi đi học được dạy mà do bác tôi thường đọc và tôi nhớ. Lúc ấy tôi đâu có biết nó hay hay không hay, mà vì giọng thơ lạ so với những bài thơ khác. Nó không phải nói về nỗi buồn hay chia cách, mà lúc ấy làm sao tôi cảm nhận được, mà cái chính là sự ngang tàng, chí quyết ra đi, coi tất cả sự ràng buộc của các mối quan hệ, tình cảm như hạt bụi, chiếc lá… Năm 1961, trong Tuyển tập thơ Việt Nam 1930-1945 có in bài thơ. Lần đầu tiên, tôi đọc nó một cách chính thức và đầy đủ.
Viếng mộ Nhà thơ Thâm Tâm ở Quảng Uyên, Cao Bằng
Nhắc đến chuyện thơ ca, tôi nhớ đến một kỷ niệm. Ngày tôi còn bé, bố tôi mất, gia đình tôi được đón lên ATK (An toàn khu Thái Nguyên) ở. Sống cùng với các ông Nguyên Hồng, Nguyễn Huy Tưởng, các ông ấy cứ hay hỏi và thử xem liệu tôi có biết làm thơ hay không. Nhưng chẳng hiểu vì sao tôi lại theo con đường khoa học tự nhiên, thỉnh thoảng có viết lách đôi chút cho riêng mình…
Ngoài những bài thơ cha tôi sáng tác, có bài Hai sắc hoa Tigôn cũng thường được mọi người nhắc tới với tên cha tôi. Cũng có người xì xào đó là những câu thơ liên quan đến chuyện tình riêng tư của ông! Đã có lần tôi hỏi ông chú tôi, ông chỉ cười rồi nói: “Đó là chuyện đã lâu rồi…” Tôi hỏi mẹ tôi thì bà nói: “Bố mày làm văn chương chắc có nhiều bạn, cũng có thể có nhiều mối tình…” Tôi không tìm hiểu sâu thêm chuyện này vì nghĩ nếu trong đời có một chuyện tình như vậy, thì cũng là chuyện tình đẹp, dù có ngang trái…
Đọc những bài viết, hồi ức của các nhà văn, nhà thơ bạn cũ của cha tôi, tôi càng thêm quý yêu Người. Tôi cũng rất quý trọng tình cảm của các nhà văn, nhà thơ bạn bè của cha tôi. Tôi muốn có dịp nào đó tổ chức cuộc gặp gỡ có đông đủ bạn bè, các nhà văn, nhà thơ để cảm ơn tấm lòng mọi người với cha tôi. Tôi cũng mong có dịp gặp các anh các chị con nhà thơ Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân, đấy là dịp để các con thắp nén hương tưởng nhớ những người cha thân yêu của mình.
PHƯƠNG THẢO ghi
Nguồn: Đặc san Văn nghệ, số 3, năm 1992, trang 11

Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

Thứ Sáu, 7 tháng 3, 2014

Ca khúc Nhật Bản "Trên phố mùa đông"

TRÊN PHỐ MÙA ĐÔNG 冬の街から
Nhạc: 小谷充, Lời: 東海林良
Lời Việt: Nguyễn Tuấn Khoa
Trình bày: Nguyễn Tuấn Khoa, trên nền bản ghi nhạc của Đặng Lệ Quân.                                     
白い雨に打たれ Mưa buồn về trên phố đêm mùa đông vắng tanh
傘も差さず独り  Mưa lạnh còn rơi, bước mình em trên phố.
最終バスを降りて  Chuyến tầu đêm cuối đã dừng ga bên đường
何処と当てない忘れ旅   Về đâu, em biết mai sẽ đi về nơi đâu hỡi anh?

細い腕に抱かれ  Nhớ ngày năm xưa trong vòng tay ấm êm
大人二人燃えて  Những lời yêu thương nói cùng nhau say đắm
君無しでは生きて  Nhớ ngày năm xưa ta cùng nhau hẹn thề
行けぬ と言った人 遠くに  Nguyện cùng chung đôi luôn có nhau, sao giờ anh đã xa.

嘘をついたと Biết không anh, anh đã quên lời,
今は責めない  Nhớ không anh, hay đã quên rồi,
あなたの温もり  Giờ anh nơi đâu mà hơi ấm vẫn
消える日まで  Còn vương vấn trên phố đêm.

せめて今夜  Thầm được gặp giấc mơ
途切れた  Hằng đêm vẫn thấy anh
恋の夢  Dẫu biết mơ dang dở,
見させて  Lòng em vẫn mơ.

宿の窓にもたれ  Uống vì em muốn quên tình anh đắng cay
慣れぬ お酒飲むわ  Uống vì em mong say ngả nghiêng quên hết.
捨てた人を恨み  Uống vì tình em, nguời con gái đa tình
いつも泣くのは女だけ  Hận tình em mang, em khóc cho riêng mình em đắng cay.

渡り鳥の恋の  Nhớ ngày năm xưa trong vòng tay ấm êm
行方絶つに泣いた  Những lời yêu thương nói cùng nhau say đắm.
2年前の夜は  Nhớ ngày năm xưa ta cùng nhau hẹn thề
思い出だけで もうたくさん  Nguyện cùng chung đôi luôn có nhau, sao giờ anh đã xa.
 
嘘をついたと Biết không anh, anh đã quên lời,
今は責めない  Nhớ không anh, hay đã quên rồi,
あなたの温もり Giờ anh nơi đâu mà hơi ấm vẫn
消える日まで  Còn vương vấn trên phố đêm.

せめて今夜  Thầm được gặp giấc mơ
途切れた  Hằng đêm vẫn thấy anh
恋の夢  Dẫu biết mơ dang dở,
見させて  Lòng em vẫn mơ.

今夜消えたら  Giấc mơ qua, tan hết đêm nay,
何が残るの   Biết bao đêm mơ đã tan rồi,
悲しい噂と  Còn lại đây niềm cay đắng
傷跡だけ  Và một con tim xác xơ

だけど一途  Thầm được gặp giấc mơ
あなたと Hằng đêm vẫn thấy anh,
夢に生き Em vẫn luôn mong chờ,
幸せ  Dù chỉ trong giấc mơ.

Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Ca khúc "Giọt lệ tình buồn" trong phim Hồng Lâu Mộng

Xin giới thiệu ca khúc "Giọt lệ tình buồn" trong phim HỒNG LÂU MỘNG (Trung Quốc) do Nguyễn Tuấn Khoa đặt lời Việt và trình bày:

GIỌT LỆ TÌNH BUỒN 枉凝眉
Lời thơ: Tào Tuyết Cần, Nhạc: Vương Lập Bình
Lời Việt: Nguyễn Tuấn Khoa
一个是阆苑仙葩,Em vốn như hương ngọc lan ngát khắp vườn,
一个是美玉无瑕。Anh vốn như viên ngọc lam ánh sắc chiều.
说没奇缘,Đừng than kiếp trước chẳng biết nhau,
今生偏又遇着他;Mà sao nay có duyên mới gặp đây.
说有奇缘,Cũng đừng buồn mơ màng luyến tiếc những ngày qua,
如何心事 终虚化?Bao nhiêu tình thương yêu thiết tha và trái ngang đau khổ đã đầy vơi rồi.
一个枉自嗟呀,Em vẫn như bao chiều rơi nước mắt buồn,
一个空劳牵挂。Anh vẫn trôi theo vầng trăng khuyết cuối trời.
一个是水中月,Vầng trăng lấp lánh dưới dòng nước trôi, 
一个是镜中花。Và em như cánh hoa trong giấc mộng thôi,
想眼中能有,Còn bao nhiêu nước mắt rơi,
多少泪珠儿 Chút tình ngây sao đong đầy?
怎禁得秋流到冬尽,Để ngày sau được nhớ thương nhau,
春流到夏!Chờ đến đông qua tới ngày xuân về.

Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2014

Auld Lang Syne – Sự lan tỏa và sức sống bền lâu của một ca khúc bất hủ

"Auld Lang Syne" được dịch ra tiếng Anh là “Old Long Since” (Những ngày xa xưa), là một bài thơ Scotland do Robert Burns viết năm 1788 và được phổ nhạc thành một ca khúc cổ truyền. Robert Burns là nhà thơ vĩ đại của Scotland, được mệnh danh là "đại thi hào dân tộc". Ông còn rất nổi tiếng với việc sưu tầm dân ca khắp lãnh thổ Scotland, chỉnh sửa hoặc biên tập lại. Năm 1788, ông gửi bản thảo của bài hát Auld Lang Syne đến Viện bảo tàng Âm nhạc Scotland với lời nhắn: “Bài hát sau đây, một bài hát rất cổ, thuộc về những thời đại xa xưa và chưa bao giờ được in ra hay thậm chí chép tay lại cho đến khi tôi ghi ra từ tiếng hát của một cụ già”. Robert Burns khiêm tốn chưa bao giờ tự nhận mình là cha đẻ của Auld Lang Syne nhưng các học giả vẫn khẳng định công lao to lớn không thể phủ nhận của ông trong việc hình thành nên ca khúc này. Lời ca gốc giản dị mà tha thiết về tình bạn và những kỷ niệm đã qua, về những con người đã đến và đã đi qua cuộc đời, cả những vui buồn ngọt bùi, cay đắng.
Lời ca tiếng Anh:
Should auld acquaintance be forgot,
And never brought to mind?
Should auld acquaintance be forgot
And days of auld lang syne?
For auld lang syne, my dear,
For auld lang syne,
We’ll take a cup o’ kindness yet
For auld lang syne.
We twa hae run aboot the braes
And pou’d the gowans fine;
We’ve wander’d mony a weary foot
Sin’ auld lang syne.
We two hae paidled i’ the burn,
Frae mornin’ sun till dine;
But seas between us braid hae roar’d
Sin’ auld lang syne.
And here’s a hand, my trusty friend,
And gie’s a hand o’ thine;
We’ll take a cup o’ kindness yet
For auld lang syne.
Tạm dịch:
… Lẽ nào quên được những người bạn cũ năm xưa
Và chẳng còn nhớ nữa?
Lẽ nào quên được những người bạn xưa ấy
Và những ngày xưa êm đềm?
Chúng ta cùng nâng ly vì điều tốt lành
Để nhớ lại những ngày xưa tươi đẹp.
Hai ta cùng nhau trèo lên dốc núi
Cùng hái những đóa hoa đồng nội
Cùng thơ thẩn đến chân mỏi rã rời
Từ những tháng ngày tươi đẹp cũ.
Hai ta cùng lội nước trên dòng suối
Từ sáng sớm cho đến chiều tà
Nhưng biển rộng giữa chúng ta đã một thời gầm thét
Từ những tháng ngày tươi đẹp cũ…
Auld Lang Syne nguyên là một ca khúc về tình bạn. Về sau, người ta thường hát nó như là lời tiễn biệt năm cũ với bao điều nhớ mong dang dở và lời chào đón năm mới với những kỳ vọng trông chờ. Bài hát đã được phổ biến đến nhiều quốc gia và thường được hát trong thời khắc giao thừa để chào năm mới. Nó cũng được sử dụng khá rộng rãi trong các đám tang, lễ tốt nghiệp, dịp chia tay hoặc kết thúc một công việc, một nhiệm kỳ, để thể hiện sự "kết thúc/khởi đầu mới". Giai điệu của ca khúc cũng được sử dụng với nhiều lời khác nhau, đặc biệt là các bài hát về thể thao và thậm chí cả quốc ca.
Xin giới thiệu một vài bản trình diễn Auld Lang Syne theo các phong cách khác nhau:
Các ca sĩ Scốt-len trình bày Auld Lang Syne theo phong cách dân tộc cổ truyền:

Auld Lang Syne Scốt-len
Ca sĩ Dougie MacLean người Scốt-len trình bày Auld Lang Syne:

Auld Lang Syne - Dougie MacLean
Mariah Carey trình bày trên nền pháo hoa đón năm mới ở Mỹ:
Auld Lang Syne - Mariah Carey
Một bản hòa tấu Auld Lang Syne:
Auld Lang Syne hòa tấu
Taylor Davis trình bày Auld lang Syne bằng violon:
Auld Lang Syne violon
Huýt sáo miệng Auld Lang Syne:
Auld Lang Syne huýt sáo
Với điệu nhạc Auld Lang Syne, vào những năm 40 của thế kỷ trước, người Việt Nam hát theo lời sau đây vào những lúc kết thúc buổi sinh hoạt tập thể như trại hè hoặc lớp Hướng đạo:
Giờ đây anh em chúng ta cùng nhau giã từ lòng còn lưu luyến,
Cách xa nhưng ta hằng mong rồi đây có ngày còn được gặp nhau.
Thử hình dung thời đó, trong một buổi đốt lửa trại, các hướng đạo sinh Việt Nam sẽ hát Auld Lang Syne như thế này (Tuấn Khoa trình bày trên nền nhạc Scốt-len):
Bài ca chia tay của hướng đạo sinh Việt Nam
Còn trẻ con ở Việt Nam thời đó thì hát “nhạc chế” rất buồn cười:
Tò te, cây me đánh đu, Tanzan nhảy dù, thằn lằn bắn súng.
Chết cha con ma nào đây, làm tao hết hồn, thằn lằn cụt đuôi... 

Theo bác Trần Công Chí, người tham gia Nhi đồng Cứu quốc tại Lạng Giang, Bắc Giang, trong các cuộc mít tinh chuẩn bị khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, thanh niên và nhi đồng cũng đã từng hát bài  hát này, với lời ca cách mạng như sau: 
Giờ đây anh em chúng ta cùng nhau xếp hàng chào cờ cứu quốc.
Đắp xây non sông Việt Nam ngàn năm vững bền độc lập tự do.
Giai điệu của Auld Lang Syne cũng đã xuất hiện trong điện ảnh với tính chất hồi tưởng về những kỷ niệm.
Adam J. Cserney trình bày Auld Lang Syne rất da diết trong bộ phim “Waterloo Bridge” với điệu valse giã từ giữa Roy và Myra do 2 diễn viên nổi tiếng Vivien Leigh và Robert Taylor đóng cặp:
Auld Lang Syne “Waterloo Bridge"
Trong phim It’s a Wonderful Life”, khi nhân vật George Bailey trở về nhà, nghèo khổ và vỡ nợ, chợt nghe tiếng hát Auld Lang Syne của các bạn bè, hàng xóm đang tụ tập ngoài nhà, đến quyên góp tiền giúp anh:
Auld Lang Syne “It’s a Wonderful Life”
Đan Mạch, Auld Lang Syne được dịch năm 1927 bởi nhà thơ nổi tiếng của Đan Mạch Jeppe Aakjær. Ông dịch bài hát sang tiếng Đan Mạch thổ ngữ. Bài hát mang tên "Skuld gammel venskab rejn forgo - Should old acquaintance be forgotten", là một phần không thể tách rời của ca hát truyền thống, nhất là ở các vùng nông thôn:
Năm 1974, nhóm nhạc rock Đan Mạch “Gasolin” đã hiện đại hóa giai điệu Auld Lang Syne thành ca khúc pop ballad "Stakkels Jim":
Stakkels Jim
Sissel trình bày Auld Lang Syne đoạn 1 bằng tiếng Anh và 3 đoạn sau bằng tiếng Thụy Điển trên Swedish TV4: Auld Lang Syne Thuỵ Điển
Auld Lang Syne, Sissel, Thuỵ Điển
Ở Trung Quốc, những ngày hội lớp, gặp mặt bạn cũ, những người đã về hưu, … người ta hay hát Auld Lang Syne bản tiếng Trung (谊地久天长 - Tình bạn mãi mãi bền lâu).
谊地久天长 do nhóm “Thiên nga đen” trình bày:
友谊地久天长
Những người về hưu thổi harmonica Auld Lang Syne vào buổi sớm tại Công viên Thiên Đàn, Bắc Kinh, Trung Quốc:
友谊地久天长 harmonika
Ngày 30/6/1997, Lực lượng Cảnh sát Hoàng gia Hồng Kông đã chơi ca khúc này trong ngày rời nhiệm sở của thống đốc Chris Patten, đánh dấu sự kiện Anh trao trả Hồng Kông cho Trung Quốc:
Auld Lang Syne Hồng Kông
Ở Đài Loan, Auld Sang Syne được hát trong lễ tốt nghiệp và cả trong tang lễ.
Quân đội Pakistan cử ca khúc này trong lễ đón tân binh, duyệt binh, diễu hành, lễ chia tay, tiễn …. Lễ tiễn thủ tướng Pakistan kết thúc nhiệm kỳ:
Auld Lang Syne Pakistan
Tháng 10/2000, Giai điệu của Auld Lang Syne cũng được vang lên trong lễ tang cựu Thủ tướng Canada, Pierre Trudeau.
Nhật Bản, bài hát Nhật dành cho học sinh "蛍の光 - Hotaru no hikari" (Đèn đom đóm) có dùng phần nhạc của Auld Lang Syne. Lời ca đã nhắc đến một loạt hình ảnh về vô vàn khó khăn gian khổ mà những học sinh chăm chỉ phải trải qua trên con đường đầy chông gai để có được tri thức, vào buổi tối phải bắt đom đóm làm đèn hoặc học bài dưới ánh trăng khi không có nguồn sáng nào khác. Bài hát thường được hát trong buổi lễ tốt nghiệp và vào cuối năm học, cũng như ở rất nhiều cửa hàng và tiệm ăn ở Nhật. Đài truyền hình quốc gia NHK cũng chơi nó trong suốt những ngày Tết.
Đơn ca bài Đèn đom đóm - 蛍の光:
蛍の光
Đồng ca học sinh bài Đèn đom đóm:
蛍の光 đồng ca
Một màn trình diễn hợp xướng không có nhạc đệm bài Đèn đom đóm: 蛍の光 hợp xướng
蛍の光 hợp xướng
Ở Triều Tiên trước đây, lời ca của bài Aegukga, Quốc ca Triều Tiên đã được hát với âm nhạc của bài Auld Sang Syne. Sau này, nhạc sĩ Ahn Eak-tai sáng tác một giai điệu mới trên lời ca hiện tại. Cũng giống như ở Nhật Bản và Đài Loan, Auld Lang Syne được dùng ở Hàn Quốc như một bài ca tốt nghiệp và một bài hát chia tay bạn bè hoặc trong đám tang. Phiên bản tiếng Triều Tiên 송년가:
송년가 Hàn Quốc
Bangladesh và các phần của khu vực Bengal thuộc Ấn Độ, giai điệu chính của Auld Lang Syne được lãnh tụ Rabindranath Tagore sử dụng để sáng tác bài hát Belgan nổi tiếng " পুরানো সেই দিনের কথা - Purano sai diner kotha" với một số thay đổi trong giai điệu nhưng gần như giữ nguyên tiết tấu và cấu trúc của Auld Lang Syne. Phiên bản tiếng Belgali có đối chiếu với nguyên mẫu tiếng Anh:
পুরানো সেই দিনের কথা
Thái Lan, bài hát "Samakkhi Chumnum-สามัคคีชุมนุม", với giai điệu tương tự Auld Lang Syne, được hát sau các trận thể thao và thời điểm kết thúc các trại họp bạn Hướng đạo sinh cũng như đón năm mới. Bài hát nói về nhà vua và đoàn kết dân tộc. Nhiều người Thái vẫn tin rằng đây là một bài hát cổ truyền Thái Lan. Phiên bản tiếng Thái Lan:
สามัคคีชุมนุม
Ba Lan, bài "Braterski krąg" có giai điệu tương tự. Nó thường được hát bởi các thành viên của phong trào hướng đạo Ba Lan (Związek Harcerstwa Polskiego) trong các buổi họp mặt. Phiên bản tiếng Ba Lan:
Braterski krąg
Zimbabwe, "Famba zvi nyoronyoro, tichasanganiswa muroa ra Jesu" với giai điệu Auld Sang Syne được hát bằng tiếng Shona như một bài hát chia tay hoặc tang lễ.
Hy Lạp, bài hát Auld Sang Syne rất thông dụng và dịch bởi Tổ chức hướng đạo Hy Lạp với cái tên "Τραγούδι Αποχωρισμού" ("Bài hát chia tay") và nó là một phần của lễ bế mạc của chuyến đi cắm trại hướng đạo. Phiên bản tiếng Hy Lạp:
Τραγούδι Αποχωρισμού
Ở nhiều nước khác, Auld Sang Syne thường được dịch hoặc đặt lời mới và hát trong dịp đón năm mới, lễ thượng thọ, họp mặt gia đình, bạn bè hoặc lễ chia tay.
Chile, giai điệu Auld Sang Syne được hát bằng tiếng Tây Ban Nha, đặc biệt trong Giáo hội Công giáo Rôma. Giai điệu này có tên "Canción del adiós" ("Bài hát chia tay"). Phiên bản tiếng Tây Ban Nha do ca sĩ Carmen Ariza trình bày.
Canción del adiós
Ở nước Nga, có một vài phiên bản khác nhau của Auld Lang Syne. Người Nga hát mừng năm mới "За старые года":

Auld Lang Syne - За старые года
Mừng sinh nhật người già:
Auld Lang Syne mừng thọ tiếng Nga
Nhóm nhạc Bambir của Armenia trình bày bằng tiếng Anh, tiếng Nga và tiếng Armenia:
Auld Lang Syne tiếng Nga và Armenia
Phiên bản tiếng Đức “Nehmt Abschied, Brüder” (Hãy chia tay)  rất hay:
Nehmt Abschied, Brüder
Phiên bản tiếng Pháp hát mừng năm mới "Aux jours du temps passé":
Aux jours du temps passé
Cuối cùng là Auld Sang Syne chào năm mới 2014:
Happy new year 2014
Hơn 200 năm đã trôi qua, Auld Lang Syne đã đi vắt qua 4 thế kỷ. Ca khúc Auld Lang Syne đã vang lên ở rất nhiều quốc gia, hầu như khắp trái đất đều hát Auld Lang Syne, bằng nhiều ngôn ngữ, nhiều lời ca từ khác nhau, nhưng đều chung một ý nghĩa: hãy đừng quên nhau, hãy nhớ về nhau, nhớ về những tình bạn cũ, những kỷ niệm xưa, để cùng nắm tay nhau đi tới, đón chào ngày mới, cuộc sống mới, hạnh phúc mới trong thời khắc giao thừa năm mới, trong một thời đại mới.
Nguyễn Tuấn Khoa

Thứ Tư, 27 tháng 11, 2013

Ca khúc Trung Quốc "Khát vọng" lời Việt

Xin giới thiệu ca khúc chủ đề Phim "Khát vọng" (Trung Quốc), do Nguyễn Tuấn Khoa dịch lời Việt và trình bày:
Dưới đây là video để hát karaoke tiếng Việt:

Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013

Ươm mầm tài năng

Nhân kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11, xin giới thiệu lại một bài viết hay về nền giáo dục: "Ươm mầm tài năng" của Nhà báo Vũ Công Lập, đã đăng trên Tuổi trẻ số Tết 2011.

Tuổi Trẻ Xuân 2011  
Tài năng là của riêng mỗi người, nhưng cũng là tài sản chung của cả xã hội. Phát hiện và nuôi dưỡng tài năng là một nhiệm vụ của ngành giáo dục, điều mà chúng ta từng làm rất tốt trong nhiều năm trước, ngay cả khi vô cùng khó khăn về cơm áo lẫn bom đạn. Một bài học rất đáng suy nghĩ trong năm 2010, khi giáo sư Ngô Bảo Châu đoạt giải Fields.
Vun trồng tài năng là việc của mọi người và mọi thời - Ảnh: Thuận Thắng
Vào năm 1959, tôi học lớp 6 ở Trường cấp II Trưng Vương, cũng là ngôi trường sau này Ngô Bảo Châu theo học, nằm ở góc phố Hàng Bài, Lý Thường Kiệt, Hà Nội. Một buổi chiều, lũ trẻ chúng tôi được tập trung để nghe nói chuyện. Diễn giả hôm ấy là thầy Nguyễn Đình Tứ, vừa từ Trung Quốc trở về.
Đó là lần đầu tiên tôi nghe nói đến phóng xạ, hạt nhân, nguyên tử, hạt cơ bản… Dù không hiểu được nhiều nhưng tất cả chúng tôi đều say sưa, tất cả chúng tôi đều hăm hở. Và hầu như ai cũng có một khao khát, chỉ có điều là không ai dám nói ra mà thôi. Hơn nữa, chúng tôi thấy một nhà khoa học là người Việt Nam, trẻ trung và hấp dẫn vô cùng.
Sang năm 1960, thầy giáo dạy toán Vũ Tế Kỳ nói với cả lớp về một kế hoạch đào tạo đặc biệt. Thầy bảo đang có kế hoạch chọn ra những em học sinh giỏi nhất, để tập trung đào tạo theo yêu cầu cao hơn, để ươm mầm những tài năng sau này phục vụ đất nước. Cái hăm hở năm trước như càng hối hả hơn, cho dù chưa ai biết việc chọn học sinh giỏi hay dạy học sinh giỏi sẽ thực hiện như thế nào. Riêng ở lớp do thầy Kỳ phụ trách, có phong trào giải một bài toán bằng nhiều cách.
Đề toán do học sinh tự chọn. Tôi còn nhớ kỷ lục của lớp tôi năm ấy thuộc về Phan Quốc Khánh, với 28 cách giải khác nhau cho một bài toán hình học. Bây giờ Khánh là Giáo sư - Tiến sĩ khoa học, nguyên Hiệu trưởng Đại học Quốc tế thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM, đã nghỉ hưu và đang giảng dạy ở Mỹ. Cái hay của lớp tôi ngày ấy là có rất nhiều bạn tham gia cuộc thi toán đơn giản đó, rất vui.
Tới năm chúng tôi học lớp 8, khoảng năm 1962-1963, bắt đầu có phong trào thi học sinh giỏi. Thi nhiều môn lắm, có toán, văn, lý, hóa, sinh học, ngoại ngữ. Và thi cũng thực tế, cũng đơn giản: chỉ khoảng 15-30 phút trước mỗi giờ học thường ngày. Chưa có luyện thi, chưa có bồi dưỡng hay lựa chọn gì rắc rối. Nhưng khí thế rất sôi nổi và rầm rộ.
Về sau có thi trường, thi cấp thành phố, rồi thi học sinh giỏi toàn miền Bắc, chỉ hai môn toán và văn. Năm 1964, lớp 10E Trường Trưng Vương 3A chúng tôi có bạn Nguyễn Tuấn Khoa giành giải ba miền Bắc khi không có giải nhất và giải nhì. Nghĩa là đứng đầu. Nguyễn Tuấn Khoa là con trai duy nhất của nhà thơ Thâm Tâm, sau này anh còn đoạt giải ba cuộc thi truyện ngắn của Văn Nghệ Quân Đội, dù anh là Viện trưởng Viện Thông tin Y học của Bộ Y tế.
Năm 1967-1968, khi tôi học năm thứ 4 ngành vật lý lý thuyết, khoa lý Đại học Tổng hợp Hà Nội, chúng tôi được chứng kiến một lớp tài năng thật sự. Đó là lớp toán đặc biệt, ký hiệu là lớp A0. Chúng tôi chiêm ngưỡng các bạn học A0 bằng một cái nhìn nể phục, hơi chút ghen tỵ và với rất nhiều hi vọng. Từ lứa này đã sinh ra hàng loạt tên tuổi lớn của toán học Việt Nam.
Riêng tôi chỉ có cơ hội tiếp tục làm việc với một người - anh Vũ Duy Mẫn, là phó giáo sư công tác ở Viện Tin học, Viện Khoa học Việt Nam, sau chuyển sang Mỹ làm việc tại Liên Hiệp Quốc. Anh Mẫn không theo đuổi khoa học nhưng là người dịch hai cuốn sách nổi tiếng rất thành công: Bài giảng cuối cùng (R. Pausch) và Chuyển đổi lớn (N. Carr). Đó là những cuốn sách của Nhà xuất bản Trẻ rất có tiếng vang. Khi tôi trao đổi với Vũ Duy Mẫn, không khí lớp toán A0 ngày xưa lại hiện về với những dấu ấn không bao giờ phai nhạt.
Trường đại học Tổng hợp ngày ấy sơ tán ở Đại Từ, Thái Nguyên. Chúng tôi ở nhờ nhà dân, đi rừng chặt nứa, chặt gỗ về tự làm nhà, đóng lấy bàn ghế, rồi đào hầm tránh tàu bay, tăng gia sản xuất. Các thầy cùng sinh viên ì ạch khiêng thiết bị thí nghiệm lên núi cao. Nhưng Trường Tổng hợp ngày ấy có một sự say mê đến lạ lùng.
Chúng tôi say mê các thần tượng của mình (các thầy giáo) như các bạn trẻ bây giờ mê mẩn các ngôi sao ca nhạc (!). Chúng tôi kể các huyền thoại về các thầy (thầy Hoàng Tụy khoa toán, thầy Hoàng Phương khoa lý…) và đứng trông theo cả mỗi bước đi của các thầy. Chúng tôi kể cho nhau nghe về Trường Lomonosov, nơi chưa một ai được đặt chân đến, nhưng ai ai cũng ao ước dù chỉ một lần được nhìn qua ngọn đồi Lênin ở đó…
Với tất cả chúng tôi ngày đó, bác Bộ trưởng Tạ Quang Bửu là một huyền thoại trên mọi huyền thoại. Những ngày nghe tin bác lên trường, cứ có cảm tưởng như thần tiên hạ giới. Rồi thấy bác đi cùng các nhà khoa học hàng đầu thế giới, phăm phăm lội suối, phăm phăm lên rừng, nói chuyện về toán học, về vật lý, về sinh học…
Trong tình cảm ngày ấy có nhiều cái còn nông nổi, còn trẻ con, nhưng thật sự là trong mỗi sinh viên đói ăn luôn cháy một niềm mơ ước, tạo ra sự say mê và quyết tâm ngấm ngầm làm nên một điều gì đó. Sau này đi thi nghiên cứu sinh, chúng tôi đã trải qua những ngày cực kỳ căng thẳng. Bác Tạ Quang Bửu là người vô cùng nghiêm khắc khi quyết tâm đảm bảo chất lượng thật sự cho những kỳ thi, không đầu hàng bất cứ sức ép nào, để chúng tôi hiểu rằng làm khoa học là cực khổ và gian nan lắm, đòi hỏi những người thật sự có khả năng.
Đó là ơn huệ chúng tôi nhận được từ nền giáo dục Việt Nam suốt hơn 50 năm qua. Trong lứa chúng tôi, không ai được như Ngô Bảo Châu, như nhiều nhà khoa học tài danh khác, nhưng đó là khóa 9 của Đại học Tổng hợp, Bách khoa hay Nông nghiệp, lứa chúng tôi có nhà văn Chu Lai, có nhà toán học Phan Quốc Khánh, có dịch giả Phạm Văn Thiều, nhà vật lý lý thuyết Nguyễn Văn Liễn, nhà sử học Dương Trung Quốc… Chúng tôi là những hạt giống đã được phát hiện và được ươm trồng.
Nói tài năng thì hình như là hơi to tát quá. Vì tài năng chỉ một số không nhiều người có. Nhưng chắc chắn rằng mỗi chúng ta đều có một khả năng thật sự nào đó. Phát hiện ra khả năng đó, hun đúc với lòng khát khao, sự say mê để trau dồi khả năng đó, và quyết tâm đem khả năng đó ra để chứng tỏ mình, để làm một cái gì đó cho mình và vì mọi người, có lẽ lại là việc của mọi người và mọi thời.
VŨ CÔNG LẬP